03/03/2021 15:30
Xem với cỡ chữ

Đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Nhóm nghiên cứu Ban Kế hoạch - Nguồn vốn, NHPT (bài đăng số Tháng 1+2/2021 Tạp chí HTPT)
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) được thành lập theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và các nhiệm vụ khác được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.
Trải qua gần 15 năm hoạt động, NHPT đã cấp tín dụng hàng trăm ngàn tỷ đồng để hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thực hiện các dự án, phương án đầu tư, kinh doanh và xuất khẩu hàng hóa. Ngoài ra, NHPT cũng đã hỗ trợ lãi suất hoặc bảo lãnh cho nhiều doanh nghiệp vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác để thực hiện các dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh mà NHPT không trực tiếp cho vay. 
Đánh giá một cách tổng quát, hoạt động của NHPT trong 15 năm qua đã cung ứng cho nền kinh tế một lượng vốn tín dụng tương đối lớn, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển nhằm tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thông qua hoạt động cho vay đối với các dự án đầu tư phát triển, nguồn vốn tín dụng từ NHPT còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp nông thôn và đảm bảo an sinh xã hội. Bên cạnh đó, với việc phát hành một lượng lớn trái phiếu để huy động vốn, cùng với việc tài trợ vốn cho nhiều dự án và doanh nghiệp thông qua các hình thức cấp tín dụng gián tiếp (bảo lãnh vay vốn, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư), hoạt động của NHPT đã góp phần tích cực vào việc bổ sung công cụ nợ cũng như tăng quy mô dư nợ tín dụng của nền kinh tế, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được nói trên, hoạt động của NHPT thời gian qua cũng bộc lộ những điểm tồn tại, hạn chế về chất lượng tín dụng và cân đối tài chính. Cùng với đó, NHPT cũng còn nhiều điểm còn thiếu vắng so với yêu cầu của một ngân hàng chuyên nghiệp và hiện đại theo thông lệ hoặc một ngân hàng chính sách bền vững, hiệu quả và đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ được giao theo mục tiêu đã đặt ra trong Chiến lược phát triển NHPT đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Những tồn tại, hạn chế nói trên trong hoạt động của NHPT bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan. Tuy nhiên, nổi bật lên trong đó là những nguyên nhân bắt nguồn từ sự bất cập trong các quy định của Nhà nước về mô hình hoạt động của NHPT. Cụ thể: 
Một là: địa vị pháp lý của NHPT không được xác định rõ ràng
Trước đây, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập NHPT cũng như phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của NHPT không quy định rõ NHPT thuộc loại hình tổ chức nào. Đến khi ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động theo Quyết định số 1515/QĐ-TTg ngày 03/9/2015, Thủ tướng Chính phủ có quy định NHPT là ngân hàng chính sách.
Mặc dù trong các loại ngân hàng được quy định của Luật các Tổ chức tín dụng (ban hành năm 1997 và năm 2010) đều có Ngân hàng phát triển và Ngân hàng chính sách, tuy nhiên ngoài việc liệt kê tên trong luật như trên, đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một văn bảo pháp lý nào quy định cụ thể về mô hình hoạt động của các loại ngân hàng này. Điều này dẫn tới việc các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan tư pháp, các khách hàng, đối tác của NHPT và chính bản thân NHPT lúng túng trong việc xác định địa vị pháp lý của NHPT. Hệ quả là NHPT gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động (huy động vốn, giao dịch bảo đảm, xử lý nợ xấu, giải quyết tranh chấp pháp lý...) do không xác định được nguồn luật áp dụng.
Hai là: Cơ chế chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước thời gian qua còn nhiều bất cập, thể hiện trên nhiều mặt như:
- Danh mục đối tượng vay vốn chưa thể hiện hết các ưu tiên chiến lược trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và thiếu tính thực tiễn, tính ổn định chưa cao. Hiện nay nhiều đối tượng hoặc lĩnh vực vay vốn không có nhiều khách hàng đầu tư dự án nên số lượng dự án ngày càng giảm qua các năm ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng dư nợ. Qua các giai đoạn, đối tượng được vay vốn tín dụng đầu tư đã thu hẹp khá nhiều.
- Chính sách lãi suất còn những điểm chưa phù hợp: Lãi suất cho vay các năm trước được ấn định không theo nguyên tắc thị trường, cố định ở mức thấp trong thời gian dài dẫn đến việc khách hàng chiếm dụng vốn của NHPT, không trả nợ. Quy định lãi suất điều chỉnh không linh hoạt và thẩm quyền công bố là Bộ Tài chính thời gian qua đã không tạo sự chủ động theo cơ chế đồng thuận giữa NHPT và khách hàng, đặc biệt trong điều kiện thị trường có nhiều biến động. Nhiều khoản vay với lãi suất cao trước đây chưa được giảm lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường nên nhiều khách hàng trả nợ trước hạn dẫn đến tăng trưởng tín dụng âm vào các năm gần đây.
- Các quy định không hợp lý về dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro cũng như cơ chế tài chính đang tiếp tục làm gia tăng các nguy cơ về rủi ro tín dụng, rủi ro tài chính và rủi ro thanh khoản. Mặc dù có đối tượng tài trợ tiềm ẩn nhiều rủi ro dễ phát sinh nợ xấu nhưng trong nhiều năm trở lại đây việc xử lý nợ xấu của NHPT thường xuyên gặp vướng mắc do Quy chế xử lý rủi ro tín dụng tại NHPT đến nay vẫn chưa được ban hành.
Ba là: NHPT chưa được bố trí đủ nguồn lực tương xứng với nhiệm vụ được giao
Mặc dù các vấn đề về đồng bộ hóa giữa bố trí nguồn lực và giao nhiệm vụ cho NHPT đã được đề cập trong Chiến lược phát triển NHPT đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 theo Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ nhưng chưa được thực hiện đầy đủ. Liên tục trong nhiều năm, Ngân sách Nhà nước thường xuyên gặp khó khăn trong bố trí đủ nguồn để cấp vốn điều lệ, cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho NHPT đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Trong khi đó, bên cạnh nhiệm vụ thực thi chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước vốn đã rất nặng nề, thời gian qua, NHPT còn được giao thêm nhiều nhiệm vụ đòi hỏi nguồn lực lớn, chẳng hạn cho vay Chương trình Kiên cố hóa kênh mương và giao thông nông thôn hoặc cho vay đầu tư dự án Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng…
Bốn là: Quyền tự chủ của NHPT trong hoạt động nghiệp vụ rất hạn chế
Là một ngân hàng được giao thực thi chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước song quyền tự chủ của NHPT trong thực thi nhiệm vụ lại được quy định rất hạn chế. Sự hạn chế về quyền tự chủ của NHPT có thể nhận ra ở rất nhiều hoạt động, từ việc huy động vốn, cho vay, thu hồi và xử lý nợ… Chẳng hạn: 
- Về huy động vốn: Nguồn vốn hoạt động của NHPT chủ yếu được hình thành từ nguồn phát hành trái phiếu, trong khi quy mô phát hành trái phiếu hàng năm của NHPT lại phụ thuộc vào hạn mức bảo lãnh của Chính phủ.
- Về cho vay: Tuỳ theo Nghị định về tín dụng đầu tư của Nhà nước được Chính phủ ban hành ở từng thời kỳ, việc cho vay của NHPT đối với các dự án có rất nhiều nội dung phải trình Bộ Tài chính hoặc Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Chẳng hạn, theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, Bộ Tài chính quyết định lãi suất cho vay, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc cho vay đối với các trường hợp vượt 70% tổng mức đầu tư hoặc vượt quá 15% vốn điều lệ thực có của NHPT; còn theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc cho vay đối với các trường hợp vay vốn quá 15 năm, hoặc vượt 15% vốn tự có của NHPT (đối với một khách hàng) và 25% vốn tự có của NHPT (đối với một nhóm khách hàng liên quan) hoặc các trường hợp không đáp ứng đủ yêu cầu thông thường về bảo đảm tiền vay… Cùng với đó, quy mô cho vay của NHPT cũng do Thủ tướng Chính phủ quyết định thông qua Kế hoạch tín dụng đầu tư phát triển được giao cho NHPT hàng năm.
- Về xử lý nợ: Mặc dù các khoản nợ xấu của NHPT có thể được xử lý bằng nhiều biện pháp khác nhau, song theo Nghị định của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước ban hành qua các thời kỳ thì NHPT chủ yếu được thực hiện biện pháp gia hạn nợ, còn các biện pháp khác (khoanh nợ, xoá nợ gốc, xoá nợ lãi, bán nợ…) phải được quyết định bởi Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc Thủ tướng Chính phủ…
Từ những phân tích trên đây, có thể thấy rằng, để khắc phục được những tồn tại, hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, thì việc đổi mới mô hình của NHPT là việc làm hết sức quan trọng. Trong quá trình đó, cùng với việc xác định rõ ràng địa vị pháp lý của NHPT và hoàn thiện chính sách về tín dụng đầu tư của Nhà nước, thì việc nghiên cứu sửa đổi các quy định nhằm nâng cao tính tự chủ của NHPT mà trước hết là tự chủ về tài chính, là vấn đề có tính cốt lõi. 
Để làm được điều này, Chính phủ và các Bộ cần nghiên cứu sửa đổi cơ chế tài chính đối với hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước theo hướng mở rộng nguồn thu của NHPT và giảm dần các khoản cấp bù từ Ngân sách Nhà nước cho ngân hàng này. Chỉ trong trường hợp đó, tính tự chủ về tài chính của NHPT mới được nâng lên, tạo tiền đề vững chắc cho việc đổi mới mô hình hoạt động của NHPT theo hướng mở rộng quyền tự quyết./.
Tìm theo ngày :